Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng (Phần 2)

Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng (Phần 2)

Tiếp theo phần trước, bài viết này sẽ bao gồm các hạn chế và các điểm cần chú ý khi sử dụng thông tin từ các bảng xếp hạng.

Các hạn chế của mỗi bảng xếp hạng

QS dựa trên kết quả khảo sát uy tín. Mà khảo sát uy tín dựa trên hiểu biết và cảm tính của người được hỏi. Sai sót từ đó mà phát sinh (như đã thấy ở trên) [5]

THE cũng có khả năng sai sót tương tự QS vì 33% trọng số nằm ở kết quả khảo sát uy tín.
Các trường chỉ chuyên về 1 lĩnh vực lớn sẽ không được xét ở QS. QS chỉ đánh giá các trường cung cấp khóa học ở cả bậc đại học và sau đại học, và giảng dạy ít nhất 2 trong số 5 lĩnh vực lớn: nghệ thuật và nhân văn, kĩ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và quản lý, khoa học tự nhiên, khoa học sự sống và y học. Nếu chỉ dựa vào QS, sinh viên hoàn toàn có khả năng bỏ qua những trường rất tốt và phù hợp. Ví dụ: Architectural Association School of Architecture là một trong những trường kiến trúc tốt nhất thế giới nhưng sẽ không bao giờ nằm trong xếp hạng của QS hay THE.

Các trường chỉ đào tạo bậc cao học hoặc tập trung vào đào tạo kĩ năng nghề nghiệp sẽ không được liệt kê trong THE. Lý do: THE không đánh giá các trường không dạy bậc đại học. Các trường không cho ra lò đủ lượng nghiên cứu nhất định cũng sẽ không được xếp hạng. BPP University là một ví dụ.

QS và THE có thể khiến người tra cứu hiểu sai về khả năng giảng dạy và nghiên cứu của các trường đại học nhỏ và trẻ. “Các trường đại học có quy mô nhỏ thường là các trường đại học trẻ”, có thể có đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu tốt, nhưng không thể tích lũy được lượng bài báo khoa học và trích dẫn nghiên cứu nhiều như các trường đại học lâu đời.[5] Mà trọng số của hai tiêu chí này lên tới 36% ở THE. Hạn chế này cũng xuất hiện ở QS nhưng ít nghiêm trọng hơn vì trọng số của 2 tiêu chí chỉ là 20%.

Khả năng truyền đạt kiến thức hoàn toàn bị bỏ qua ở ARWU. Chỉ báo của ARWU cũng có phần cực đoan. Nobel và Fields là những giải thưởng danh giá bậc nhất, với số lượng người nhận giải rất ít so với tổng số hơn 16,000 trường đại học trên thế giới [5]. Nếu chỉ dựa vào các giải thưởng này để so sánh, sự phân hóa khả năng nghiên cứu của mỗi trường sẽ không rõ ràng. Các trường đại học trẻ cũng ít có cơ hội được đánh giá đúng.

Các điểm cần lưu ý khi tra cứu bảng xếp hạng

Thứ nhất, bộ tiêu chí đánh giá của các bảng xếp hạng rất khác nhau. Rất thường xuyên, bộ tiêu chí đó không trùng với nhu cầu và ưu tiên của người tra cứu.

Thứ hai, các bảng xếp hạng đưa ra được so sánh tương quan giữa các trường theo tiêu chí chung và riêng, chứ không thể chỉ ra rằng trường nào tốt hay phù hợp. Ví dụ, theo QS, Đại học Edinburgh có uy tín hơn Johns Hopkins trong mắt nhà tuyển dụng (95 so với 64.7), nhưng lại có số lượng trích dẫn khoa học tính theo trung bình bộ môn thấp hơn Johns Hopkins (61.7 so với 81.8). Thực ra 2 trường này đều có chất lượng nghiên cứu và học thuật rất tốt và không thể chỉ dựa vào QS hay THE để lựa chọn.

(Còn tiếp)

Bài: Hoàng Đức Long, học giả Chevening 2015 – 2016

Ảnh: Sidgarg

Tài liệu tham khảo

[1] A. Marszal, “University rankings: which world university rankings should we trust?,” 4 October 2012. [Online]. Available: http://www.telegraph.co.uk/education/universityeducation/9584155/University-rankings-which-world-university-rankings-should-we-trust.html. [Accessed December 2016].

[2] QS Staff Writer, “QS World University Rankings Methodology,” Quacquarelli Symonds Ltd., September 2016. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/qs-world-university-rankings/methodology. [Accessed December 2016].

[3] Times Higher Education, “World University Rankings 2016-2017 methodology,” Times Higher Education, September 2016. [Online]. Available:
https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/methodology-world-university-rankings-2016-2017. [Accessed December 2016].

[4] L. Bridgestock, “World University Ranking Methodologies Compared,” Quacquarelli Symonds, September 2016. [Online]. Available: https://www.topuniversities.com/university-rankings-articles/world-university-rankings/world-university-ranking-methodologies-compared. [Accessed December 2016].

[5] M. B. Gokcen Arkali Olcay, “Is measuring the knowledge creation of universities possible?: A review of university rankings,” Technological Forecasting & Social Change, 2016.

[6] M. Frot, “5 Common Mistakes to Avoid When Using University Rankings,” Quacquarelli Symonds Ltd., August 2016. [Online]. Available:
http://www.topuniversities.com/blog/5-common-mistakes-avoid-when-using-university-rankings. [Accessed December 2016].



1 nhận xét cho bài viết “Chuẩn bị du học 1: Bảng xếp hạng không phải la bàn vàng (Phần 2)”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *